RSS

Tag Archives: Quản trị lợi nhuận

SPV: Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2)

SPV_Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2)

Phần 2 trình bày về cách tổ chức, quy trình hoạt động, mục đích sử dụng cũng như các rủi ro liên quan của cơ chế SPV.

SPV: Công cụ đặc biệt để ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 1)

Cách tổ chức một SPV

SPV (Special Purpose Vehicle/Special Purpose Entity, SPE) được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào mục đích của doanh nghiệp thành lập.

Ở Canada, các SPV thường được thành lập dưới dạng tổ chức từ thiện (charitable trust), trong khi đó ở Mỹ thường là công ty trách nhiệm hữu hạn. Ở châu Âu, mô hình tổ chức SPV điển hình nhất là một công ty trách nhiệm hữu hạn theo luật trong nước hoặc nước ngoài, có chủ là các tổ chức từ thiện. Read the rest of this entry »

Advertisements
 

Nhãn: , , , , , , , ,

SPV: Công cụ đặc biệt để ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC

SPV Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC 1

Công ty phục vụ mục đích đặc biệt – Special Purpose Vehicle (SPV) hay Special Purpose Entity (SPE) – là một pháp nhân ngoài bảng cân đối kế toán (off-balance sheet vehicle, OBSV). 

Làm đẹp” báo cáo tài chính (Phần 2): Mánh khóe SPV, Mark to Market, Repo 105… 

SPV ra đời để phục vụ mục đích tạm thời nào đó của doanh nghiệp/cá nhân đi thành lập. Đối tượng thành lập SPV (Orginator/Sponsoring firm) điển hình nhất là các ngân hàng đầu tư (investment bank), công ty bảo hiểm hay tập đoàn tài chính.

Cơ chế SPV được hình thành và sử dụng cách đây khoảng 30 năm; nhưng thuật ngữ SPV chỉ trở nên phổ biến sau những bê bối tại Enron năm 2001, và đặc biệt là sự sụp đổ của Lehman Brothers cũng như cuộc khủng khoảng tài chính năm 2007-2008. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

Lật tẩy thủ thuật tăng lợi nhuận

Kinh tế càng khó khăn, doanh nghiệp càng nghĩ ra nhiều chiêu làm đẹp báo cáo tài chính, bằng cách các thủ thuật hợp lệ lẫn bất hợp lệ để phù phép doanh thu và bùa chi phí.

82_18_1331720929_22_14032012050823full_thumb_326x230

Doanh nghiệp còn có thể làm tăng lợi nhuận nhờ chuyển giá từ các công ty con hay công ty liên quan khác.

Cổ phiếu SSS của Công ty Cổ phần Sông Đà 6.06 bị đưa vào diện cảnh báo kể từ ngày 1.3.2012 do lợi nhuận sau thuế đã kiểm toán năm 2011 là -727 triệu đồng. Trước đó, theo báo cáo tài chính chưa kiểm toán, doanh nghiệp đạt lợi nhuận sau thuế 218 triệu đồng. Nguyên nhân của sự khác biệt trên là báo cáo kiểm toán đã điều chỉnh tăng chi phí quản lý doanh nghiệp và giá vốn. Trong điều kiện kinh doanh khó khăn như hiện nay, rủi ro doanh nghiệp sử dụng một số thủ thuật để làm đẹp báo cáo tài chính như SSS không phải là ít.

Phù phép doanh thu

Một thủ thuật các doanh nghiệp thường dùng vào cuối năm nhằm tăng con số doanh thu là cung cấp thêm tín dụng cho khách hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể xuất trước hóa đơn để ghi nhận doanh thu hay thực hiện các hợp đồng “hàng bán có thể trả lại” (nghĩa là thỏa thuận với khách hàng lấy hàng vào cuối năm và đầu năm sau trả lại hàng với lý do nào đó). Nhà đầu tư hoàn toàn có thể phát hiện thủ thuật này thông qua việc so sánh nợ phải thu/doanh thu qua các kỳ của doanh nghiệp. Công ty Cổ phần Xây dựng Điện VNECO (VE1) vừa thoát hiểm ngoạn mục từ chỗ lỗ 2,9 tỉ đồng tính đến quý III trở thành đạt lợi nhuận 89 triệu trong cả năm 2011. Năm qua, VE1 đã cấp một khoản tín dụng khá lớn cho khách hàng, biểu hiện qua việc tỉ số nợ phải thu/doanh thu của tăng từ 76% năm lên 84%.

Doanh nghiệp còn có thể làm tăng lợi nhuận nhờ chuyển giá từ các công ty con hay công ty liên quan khác. Công ty X, có giám đốc là người nhà với giám đốc công ty Y, vào ngày 20.12 mua hàng của công ty Y. Doanh thu từ lô hàng này vừa đủ để Y không bị lỗ trong năm tài chính. Một pha cứu nguy rất đẹp vào phút chót. Thông thường, các công ty dùng thủ thuật này sẽ không thực hiện hợp nhất báo cáo tài chính với các công ty con hoặc không công bố giao dịch với các công ty liên quan.

Doanh nghiệp còn có thể làm tăng lợi nhuận từ chính tài sản cố định. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, doanh nghiệp không được đánh giá lại giá trị tài sản khi đang sử dụng. Tuy nhiên, nếu dùng tài sản này góp vốn kinh doanh thì sau quá trình định giá theo “giá thị trường” doanh nghiệp sẽ có nguồn lợi nhuận khác đáng kể. Hay đơn giản hơn là thanh lý một số tài sản cố định có giá trị lớn.

Một công ty bị nghi vấn có liên quan đến vấn đề này là Công ty Cổ phần Alphanam (ALP). Trong bối cảnh công ty mẹ lỗ hơn 133 tỉ đồng từ hoạt động kinh doanh, khoản lợi nhuận khác 259 tỉ đồng làm lợi nhuận trước thuế đảo chiều tăng lên gần 126 tỉ đồng. Thuyết minh báo cáo tài chính của Công ty chỉ ghi nhận: “Quý IV, Công ty có thu nhập từ hoạt động góp vốn bằng tài sản”, ngoài ra không giải thích gì thêm. Đáng lưu ý là nguyên giá tài sản cố định hữu hình của công ty mẹ đã giảm khá lớn, khoảng 51 tỉ đồng.

Hay Công ty Cổ phần Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam (VST) đã thanh lý tài sản với nguyên giá tổng cộng khoảng 231 tỉ đồng trong năm 2011.

Bùa chi phí

Đi đôi với doanh thu là chi phí. Với các thủ thuật hợp lệ lẫn bất hợp lệ, ban giám đốc có thể làm giảm đi chi phí thật sự của doanh nghiệp. Thủ thuật cắt giảm chi phí thường tập trung vào các ước tính kế toán, như thay đổi phương pháp tính khấu hao, chi phí phân bổ trong năm của doanh nghiệp, phương pháp xác định giá vốn. Doanh nghiệp cũng có thể không ghi nhận toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh vào chi phí hoặc giá vốn mà treo lại tại các tài khoản tạm như chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí chờ phân bổ, tạm ứng…; hay lập các khoản dự phòng nợ phải thu, giảm giá chứng khoán, hàng chậm luân chuyển, hàng hỏng… không chính xác.

Các nhà đầu tư có thể nhận ra hiện tượng bất thường này thông qua việc xem xét các tỉ lệ về giá vốn/doanh thu, chi phí/doanh thu khi các chỉ số này có biến động lớn so với cùng kỳ hoặc so với bình quân ngành khi doanh nghiệp không có biến động lớn về quản lý. Lại thêm một dấu hiệu nghi vấn từ VE1 khi tỉ lệ giá vốn/doanh thu của đơn vị thay đổi từ 88% vào cuối năm 2010 lên tới 91% vào quý III năm 2011 và giảm mạnh còn 81% vào cuối năm.

Việc cắt giảm chi phí thông qua các thủ thuật kế toán cũng thường đi kèm với hiện tượng gia tăng các tài khoản trên bảng tài sản như hàng tồn kho, sản phẩm dở dang, các chi phí phân bổ hoặc sự sụt giảm trong các tài khoản nợ như phải trả người lao động. Chi phí giá vốn sau kiểm toán của SSS tăng lên 780 triệu đồng là do đơn vị kiểm toán đã bổ sung chi phí cho nhân viên 100 triệu đồng, dự phòng mất việc khoảng 40 triệu đồng và ghi nhận thêm chi phí từ các chi phí trả trước.

Doanh nghiệp cũng có thể làm giảm chi phí thông qua việc vốn hóa các khoản chi phí không đủ điều kiện. Theo chuẩn mực kế toán, các chi phí lãi vay phát sinh trong thời gian xây dựng cơ bản được vốn hóa vào giá vốn. Như vậy, doanh nghiệp chỉ cần kéo dài thời gian xây dựng cơ bản qua niên độ tài chính là đã giảm được đáng kể chi phí lãi vay. Vốn hóa các khoản hoa hồng thông qua các hợp đồng tư vấn cũng là một cách giảm chi phí phổ biến. Ngoài hiện tượng phổ biến trên, việc nhà quản lý tăng chi phí vào các năm kinh doanh khó khăn nhằm làm giảm chi phí cho năm sắp tới cũng là rủi ro có thể xảy ra.

 

Nhãn: , ,

Creative Accounting

400_F_47000414_kgLyqVzUi3wfZkcp4NSJlmmnpyIwmOVN

Thuật ngữ “Creative Accounting” hay còn gọi là “Aggressive Accounting” là các thao tác trên con số tài chính, trong khuôn khổ luật pháp cũng như các chuẩn mực kế toán hiện hành, để thực hiện các mục tiêu nhất định về lợi nhuận. Hãy cùng tìm hiểu về vấn đề này.

Creative accounting, also called aggressive accounting, is the manipulation of financial numbers, usually within the letter of the law and accounting standards, but very much against their spirit and certainly not providing the “true and fair” view of a company that accounts are supposed to.

A typical aim of creative accounting will be to inflate profit figures. Some companies may also reduce reported profits in good years to smooth results. Assets and liabilities may also be manipulated, either to remain within limits such as debt covenants, or to hide problems.

Typical creative accounting tricks include off balance sheet financing, over-optimistic revenue recognition and the use of exaggerated non-recurring items.

The term “window dressing” has similar meaning when applied to accounts, but is a broader term that can be applied to other areas. In the US it is often used to describe the manipulation of investment portfolio performance numbers. In the context of accounts, “window dressing” is more likely than “creative accounting” to imply illegal or fraudulent practices, but it need to do so.

The techniques of creative accounting change over time. As accounting standards change, the techniques that will work change. Many changes in accounting standards are meant to block particular ways of manipulating accounts, which means those intent on creative accounting need to find new ways of doing things. At the same time, other, well intentioned, changes in accounting standards open up new opportunities for creative accounting (the use of fair value is a good example of this).

Many (but not all) creative accounting techniques change the main numbers shown in the financial statements, but make themselves evident elsewhere, most often in the notes to the accounts. The market has been surprised before by bad news hidden in the notes, so a diligent approach can give you an edge.

(Source: http://moneyterms.co.uk/)

 
 

Nhãn: , ,