RSS

Category Archives: Kiểm toán

What is window dressing in accounting?

Window dressing in accounting is actions taken by management to improve the appearance of a company’s financial statements, usually shortly before the end of an accounting period. Window dressing is particularly common when a business has a large number of shareholders, so that management can give the appearance of a well-run company to investors who probably do not have much day-to-day contact with the business. It may also be used when a company wants to impress a lender in order to qualify for a loan. If a business is closely held, the owners are usually better informed about company results, so there is no reason for anyone to apply window dressing to the financial statements.

Examples of window dressing are:

  • Cash. Postpone paying suppliers, so that the period-end cash balance appears higher than it should be.
  • Accounts receivable. Record an unusually low bad debt expense, so that the accounts receivable (and therefore the current ratio) look better than is really the case.
  • Fixed assets. Sell off those fixed assets with large amounts of accumulated depreciation associated with them, so the net book value of the remaining assets appears to indicate a relatively new cluster of assets.
  • Revenue. Offer customers an early shipment discount, thereby accelerating revenues from a future period into the current period.
  • Depreciation. Switch from accelerated to straight-line depreciation in order to reduce the amount of depreciation charged to expense in the current period.
  • Expenses. Withhold supplier expenses, so that they are recorded in a later period.

The window dressing concept is also used by fund managers, who replace poorly-performing securities with higher-performing ones just before the end of a reporting period, to give the appearance of having a robust set of investments.

The entire concept of window dressing is clearly unethical, since it is misleading. Also, it merely robs results from a future period in order to make the current period look better, so it is extremely short-term in nature.

Advertisements
 

Nhãn:

WORLDCOM – Bom tài chính mới sau ENRON

29.7.2

WorldCom, một trong nhưng ngôi sao lớn nhất trên bầu trời công nghệ thông tin nước Mỹ hôm 26/6 vừa rồi đã bị buộc tội làm sai sổ sách ở mức độ nghiêm trọng.

Gian lận về tài chính thường là khá tinh vi và rắc rối. Đó chính là lý do tại sao ban giám đốc, các quan chức quản lý nhà nước và các hãng kiểm toán thường khó ngǎn chặn. Tuy nhiên, vụ việc tuần trước của WorldCom về 3,8 tỷ USD gian lận lại không hề phức tạp như Enron. Hoá ra, WorldCom thậm chí còn không để ý đến nguyên tắc cân bằng sổ sách để che dấu các vấn đề. Công ty này đơn giản là chỉ làm cho số liệu chênh lệch lên.

Tháng 4 vừa rồi, Tổng giám đốc của WorldCom, cũng là người sáng lập ra công ty này, ông Bernie Ebbers, đã ra đi. Tổng giám đốc mới là John Sidgmore. Và một kiểm toán viên nội bộ đã phát hiện ra, công ty đang có những biểu hiện “bất thường” trong việc ghi sổ các chi phí vốn. Một điều tra sau đó của hãng kiểm toán KPMG (thay thế hãng kiểm toán đang gặp khó khǎn Arthur Andersen) đã bới ra các khoản chi phí trị giá tới 3,8 tỷ USD. Khoảng chi phí này đã bị phân loại một cách nhầm lẫn vào chi phí vốn trong suốt thời gian 5 quý kể từ đầu nǎm 2001. Về mặt kế toán, chi phí rõ ràng là khác với chi phí vốn. Các khoản chi phí vốn sẽ được trừ dần khỏi lợi nhuận theo thời gian. Còn chi phí thì khác: doanh thu trừ chi phí sẽ ra lợi nhuận. Chính vì vậy mà luồng tiền và lợi nhuận của WorldCom đã bị thổi phồng. Nǎm ngoái, WorldCom công bố lợi nhuận 1,4 tỷ USD và quý I/2002 là 130 triệu USD. Rõ ràng, các con số này nếu có tính khoản chi phí trên sẽ là hoàn toàn sai lầm. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , , ,

JPMorgan đã giúp Enron giấu nợ như thế nào?

20(13)

Công ty Enron được thành lập vào năm 1985, với doanh thu đến 101 tỷ USD trong năm 2000. Họ từng là tập đoànnăng lượng hùng mạnh nhất Hoa Kỳ, hoạt động ở trên 40 nước.

          Tuy nhiên, sau khi bị phát hiện che dấu thua lỗ nợ nần, Cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90USD vào giữa năm 2000 đã tuột dốc không phanh xuống chỉ còn chưa tới 1USD vào cuối tháng 11-2001. Với tài sản lên tới 63,4 tỷ USD, Enron là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tính đến thời điểm đó. Mọi người đều biết công ty kiểm toán thuộc hạng big5 lúc bấy giờ là Arthur Andersen(AA) đã ăn tiền để giúp Enron đánh bóng BCTC của mình, khiến cho nhà đầu tư mất hàng tỷ USD và khoảng 20.000 nhân viên Enron bị mất việc làm. Nhưng có lẽ ít ai biết Enron đã giấu nợ như thế nào và các ngân hàng lớn như JPMorrgan & Citi bank đóng vai trò gì trong vụ gian lận kinh điển này? Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , ,

Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số (Phần 2)

 phong_chong_gian_lan_cho_doanh_nghiep_3Ví dụ về gian lận

Từ lý thuyết đến thực tiễn, dưới đây là hai ví dụ điển hình về gian lận

Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số (Phần 1)

Báo cáo tài chính: Khi đang kiểm tra việc cắt giảm doanh số bán hàng ở một khách hàng, trong số các nghiệp vụ đã được chọn lựa, kiểm toán viên đã bắt gặp một nghiệp vụ liên quan đến doanh số từ một khách hàng mà dựa vào việc đánh giá tình hình kinh doanh ở các phần hành kiểm toán khác, kiểm toán viên nhận ra khách hàng này là một người mua chính. Nghiệp vụ này xảy ra không thường xuyên, và được đánh giá là trọng yếu.

Những tài liệu có liên quan đến nghiệp vụ này được thu thập. Những tài liệu này bao gồm những bằng chứng liên quan đến việc chi trả của các khoản phải thu sau ngày kết thúc Báo cáo tài chính năm. Tuy nhiên tài liệu liên quan đến việc giao hàng bẳng đường thuỷ đã không được cung cấp. Quá trình phân tích đã chỉ ra rằng không hề có việc ghi chép quá trình vận chuyển. Mặc dù có bằng chứng của việc chi trả, nhưng không hề có bằng chứng chứng minh rằng hàng hóa đã được giao. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , , ,

Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số! (Phần 1)

Untitled(3)(1)

Kiểm toán viên cần phải hiểu và tuân thủ Chuẩn mực Kiểm toán số 99 (SAS99 – Chuẩn mực kiểm toán Mỹ) – Xem xét gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chuẩn mực này chủ yếu tập trung vào các thủ tục phát hiện gian lận. Nhưng trong quá trình phát hiện gian lận, Chuẩn mực này cũng quy định việc phát hiện gian lận của kiểm toán viên luôn tồn tại những hạn chế. Bài viết này tập trung vào một số vấn đề chuyên môn có tính thông lệ khi kiểm toán viên phát hiện các sai sót trọng yếu liên quan đến gian lận. 

Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số! (Phần 2)

Bài dịch:

CHUẨN MỰC NGHỀ NGHIỆP

SAS 99 phân loại các sai sót liên quan đến gian lận thành hai loại: một là các gian lận liên quan đến báo cáo tài chính, hai là các gian lận liên quan đến việc biển thủ tài sản. Nhân tố chính để phân biệt giữa gian lận và sai sót là sự cố tình hay vô ý. SAS 99 chỉ ra rằng “rất khó khăn để xác định những hành động cố ý” và “một cuộc kiểm toán được thiết lập không phải để phát hiện những hành động cố ý” và “gian lận một phạm trù rộng lớn, kiểm toán viên không thể quyết định chính xác khi nào gian lận xảy ra”. Vì vậy khả năng xét đoán là yếu tố then chốt trong việc phát hiện các gian lận tiềm ẩn và các Chuẩn Mực Kiểm toán chung được thừa nhận GAAS (Generally Accepted Auditing Standards) đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong việc phát hiện gian lận. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , ,

SPV: Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2)

SPV_Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2)

Phần 2 trình bày về cách tổ chức, quy trình hoạt động, mục đích sử dụng cũng như các rủi ro liên quan của cơ chế SPV.

SPV: Công cụ đặc biệt để ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 1)

Cách tổ chức một SPV

SPV (Special Purpose Vehicle/Special Purpose Entity, SPE) được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào mục đích của doanh nghiệp thành lập.

Ở Canada, các SPV thường được thành lập dưới dạng tổ chức từ thiện (charitable trust), trong khi đó ở Mỹ thường là công ty trách nhiệm hữu hạn. Ở châu Âu, mô hình tổ chức SPV điển hình nhất là một công ty trách nhiệm hữu hạn theo luật trong nước hoặc nước ngoài, có chủ là các tổ chức từ thiện. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , , , , , , , ,

SPV: Công cụ đặc biệt để ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC

SPV Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC 1

Công ty phục vụ mục đích đặc biệt – Special Purpose Vehicle (SPV) hay Special Purpose Entity (SPE) – là một pháp nhân ngoài bảng cân đối kế toán (off-balance sheet vehicle, OBSV). 

Làm đẹp” báo cáo tài chính (Phần 2): Mánh khóe SPV, Mark to Market, Repo 105… 

SPV ra đời để phục vụ mục đích tạm thời nào đó của doanh nghiệp/cá nhân đi thành lập. Đối tượng thành lập SPV (Orginator/Sponsoring firm) điển hình nhất là các ngân hàng đầu tư (investment bank), công ty bảo hiểm hay tập đoàn tài chính.

Cơ chế SPV được hình thành và sử dụng cách đây khoảng 30 năm; nhưng thuật ngữ SPV chỉ trở nên phổ biến sau những bê bối tại Enron năm 2001, và đặc biệt là sự sụp đổ của Lehman Brothers cũng như cuộc khủng khoảng tài chính năm 2007-2008. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,