RSS

Category Archives: Case study

WORLDCOM – Bom tài chính mới sau ENRON

29.7.2

WorldCom, một trong nhưng ngôi sao lớn nhất trên bầu trời công nghệ thông tin nước Mỹ hôm 26/6 vừa rồi đã bị buộc tội làm sai sổ sách ở mức độ nghiêm trọng.

Gian lận về tài chính thường là khá tinh vi và rắc rối. Đó chính là lý do tại sao ban giám đốc, các quan chức quản lý nhà nước và các hãng kiểm toán thường khó ngǎn chặn. Tuy nhiên, vụ việc tuần trước của WorldCom về 3,8 tỷ USD gian lận lại không hề phức tạp như Enron. Hoá ra, WorldCom thậm chí còn không để ý đến nguyên tắc cân bằng sổ sách để che dấu các vấn đề. Công ty này đơn giản là chỉ làm cho số liệu chênh lệch lên.

Tháng 4 vừa rồi, Tổng giám đốc của WorldCom, cũng là người sáng lập ra công ty này, ông Bernie Ebbers, đã ra đi. Tổng giám đốc mới là John Sidgmore. Và một kiểm toán viên nội bộ đã phát hiện ra, công ty đang có những biểu hiện “bất thường” trong việc ghi sổ các chi phí vốn. Một điều tra sau đó của hãng kiểm toán KPMG (thay thế hãng kiểm toán đang gặp khó khǎn Arthur Andersen) đã bới ra các khoản chi phí trị giá tới 3,8 tỷ USD. Khoảng chi phí này đã bị phân loại một cách nhầm lẫn vào chi phí vốn trong suốt thời gian 5 quý kể từ đầu nǎm 2001. Về mặt kế toán, chi phí rõ ràng là khác với chi phí vốn. Các khoản chi phí vốn sẽ được trừ dần khỏi lợi nhuận theo thời gian. Còn chi phí thì khác: doanh thu trừ chi phí sẽ ra lợi nhuận. Chính vì vậy mà luồng tiền và lợi nhuận của WorldCom đã bị thổi phồng. Nǎm ngoái, WorldCom công bố lợi nhuận 1,4 tỷ USD và quý I/2002 là 130 triệu USD. Rõ ràng, các con số này nếu có tính khoản chi phí trên sẽ là hoàn toàn sai lầm. Read the rest of this entry »

Advertisements
 

Nhãn: , , ,

JPMorgan đã giúp Enron giấu nợ như thế nào?

20(13)

Công ty Enron được thành lập vào năm 1985, với doanh thu đến 101 tỷ USD trong năm 2000. Họ từng là tập đoànnăng lượng hùng mạnh nhất Hoa Kỳ, hoạt động ở trên 40 nước.

          Tuy nhiên, sau khi bị phát hiện che dấu thua lỗ nợ nần, Cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90USD vào giữa năm 2000 đã tuột dốc không phanh xuống chỉ còn chưa tới 1USD vào cuối tháng 11-2001. Với tài sản lên tới 63,4 tỷ USD, Enron là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tính đến thời điểm đó. Mọi người đều biết công ty kiểm toán thuộc hạng big5 lúc bấy giờ là Arthur Andersen(AA) đã ăn tiền để giúp Enron đánh bóng BCTC của mình, khiến cho nhà đầu tư mất hàng tỷ USD và khoảng 20.000 nhân viên Enron bị mất việc làm. Nhưng có lẽ ít ai biết Enron đã giấu nợ như thế nào và các ngân hàng lớn như JPMorrgan & Citi bank đóng vai trò gì trong vụ gian lận kinh điển này? Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , ,

Case study: ‘Đỉnh cao’ xe mô tô Ducati sống lại từ bờ vực phá sản

Đỉnh cao xe mô tô Ducati sống lại từ bờ vực phá sản 1

Cuối thập niên 1990, hàng năm Ducati sản xuất khoảng 20.000 chiếc so với 5,4 triệu chiếc của Honda, và đứng trên bờ vực phá sản. Tình thế xoay chuyển hoàn toàn sau 5 năm.

Câu chuyện:

Được Antonio Cavalieri Ducati và 3 người con trai Adriano, Marcello và Bruno Cavalieri Ducati thành lập năm 1926 tại Bologna (Italy), hãng sản xuất xe mô tô Ducati hiện thuộc sở hữu của Audi (một nhánh của Volkswagen Group) thông qua công ty sản xuất xe hơi thể thao siêu sang Lamborghini.

Ducati được xem là đỉnh cao trong lĩnh vực xe mô tô của Italy cả về phương diện thiết kế mẫu mã, chất lượng xe cũng như truyền thống lâu đời. Read the rest of this entry »

 

Nhãn:

Case study: BMW với chiến lược ‘natural hedge’ rủi ro tỷ giá

Case study BMW với chiến lược ‘hedge’ tự nhiên rủi ro tỷ giá

Tập đoàn xe hơi hạng sang BMW đã làm gì để giảm thiểu rủi ro tỷ giá, vốn có thể gây thiệt hại hàng tỷ USD mỗi năm?

Câu chuyện: 

Tập đoàn BMW, đang sở hữu các nhãn hiệu BMW, Mini và Rolls-Royce, đặt đại bản doanh ở thành phố Munich (Đức) kể từ khi thành lập năm 1916 cho đến nay. Nhưng đến năm 2011, chỉ có 17% doanh thu của Tập đoàn đến từ thị trường Đức.

Những năm gần đây, Trung Quốc đã nổi lên như là thị trường có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất của BMW, chiếm đến 14% doanh số toàn cầu trong năm 2011. Ấn Độ, Nga và các nước Đông Âu cũng trở thành những thị trường quan trọng của hãng này.

Thách thức: 

Mặc dù doanh số vẫn đang tăng trưởng, BMW e ngại sẽ bị ảnh hưởng đáng kể do tỷ giá giữa các đồng tiền thay đổi. Ước tính trong giai đoạn 2005-2009, ảnh hưởng tỷ giá đã lên đến con số 2,4 tỷ Euro!

BMW không muốn chuyển các chi phí tỷ giá này cho khách hàng bằng cách tăng giá bán. Đối thủ của họ là Porsche thực hiện theo cách này vào cuối thập niên 1980 ở thị trường Hoa Kỳ và doanh số tại thị trường này đã tụt dốc thê thảm.

Chiến lược: 

BMW thực hiện một chiến lược kết hợp 2 hành động để quản trị rủi ro tỷ giá. Thứ nhất là chiến lược “phòng vệ tự nhiên” (natural hedge), tức là chi tiêu bằng tiền tệ của chính doanh thu phát sinh, hay doanh số phải chính là đồng tiền của thị trường tiêu thụ.

Tuy nhiên, chiến lược này sẽ không giúp loại trừ hoàn toàn mọi rủi ro tỷ giá. Vì vậy, BMW tiếp tục thực hiện thêm một chiến lược nữa là phòng vệ tài chính (financial hedge), bằng cách thiết lập các trung tập sử dụng nguồn vốn (treasury centre) ở Hoa Kỳ, Anh và Singapore.

BMW thực hiện chiến lược này như thế nào: 

Chiến lược phòng vệ tự nhiên được thực hiện bằng hai cách. Thứ nhất là thiết lập nhà máy sản xuất tại những thị trường bán sản phẩm, thứ hai là thực hiện mua hàng bằng tiền tệ của những thị trường chủ chốt.

BMW giờ đây đã có cơ sở sản xuất xe hơi và phụ tùng ở 13 quốc gia. Vào năm 2000, sản lượng sản xuất ở nước ngoài chiếm đến 20% tổng sản lượng của tập đoàn, đến năm 2011 thì tăng lên đến 44%.

Những năm 1990, BMW trở thành một trong những hãng xe sang nước ngoài đầu tiên mở nhà máy sản xuất ở Mỹ, đặt ở Spartanburg, South Carolina. Đến năm 2008, BMW thông báo hãng đầu tư 750 triệu USD để mở rộng nhà máy này, tạo ra 5.000 việc làm ở Mỹ, trong khi lại cắt giảm 8.000 việc làm ở Đức.

Chiến lược này cũng giúp rút ngắn chuỗi cung ứng giữa thị trường Đức và Hoa Kỳ.

BMW đẩy mạnh mua hàng bằng USD, đặc biệt ở khu vực thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Văn phòng ở thủ đô Mexico đã thu mua lượng phụ tùng trị giá đến 615 triệu USD trong năm 2009, và tiếp tục tăng lên những năm sau đó.

BMW cũng thành lập một liên doanh với hãng Brilliance China Automotive ở Shenyang, Trung Quốc, giúp sản xuất đến phân nửa số xe của Tập đoàn bán ra ở thị trường này. BMW cũng lập một văn phòng ở Trung Quốc, giúp hỗ trợ Tập đoàn lựa chọn các nhà cung cấp ở nước này đáp ứng được yêu cầu chất lượng. Đến năm 2009, các nhà cung cấp Trung Quốc đã cung cấp lượng phụ tùng lên đến 6 tỷ Nhân dân tệ. Điều này cũng đã giúp rút ngắn chuỗi cung ứng và cải thiện dịch vụ khách hàng.

Cuối năm 2010, BMW thông báo sẽ đầu tư 1,8 tỷ Rupee vào nhà máy sản xuất ở Chennai, Ấn Độ, tăng công suất ở thị trường này từ 6.000 lên 10.000 xe. Hãng cũng có kế hoạch tăng đầu tư cho nhà máy ở Kaliningrad, Nga.

Trong khi đó, các trung tâm s ử dụng nguồn vốn khu vực được yêu cầu xem xét liên tục các rủi ro tỷ giá và ảnh hưởng , để báo cáo lên Tập đoàn ở Munich mỗi tuần . Bộ phận tài chính của Tập đoàn sẽ đánh giá các rủi ro tỷ giá toàn cầu và đưa ra khuyến nghị các giải pháp để hạn chế thấp nhất những rủi ro này.

Bài học rút ra: 

Bằng cách chuyển các cơ sở sản xuất ra thị trường nước ngoài, công ty không chỉ giảm được các rủi ro tỷ giá mà còn tạo điều kiện để cải thiện dịch vụ khách hàng. Ngoài ra, việc thu mua phụ tùng ở các thị trường nước ngoài, ngoài việc gần thị trường tiêu thụ hơn, cũng giúp đa dạng hóa các rủi ro liên quan đến chuỗi cung ứng.

Tham khảo từ Financial Times

(Source: http://www.bfinance.vn/)

 

Nhãn: ,

Lật tẩy thủ thuật tăng lợi nhuận

Kinh tế càng khó khăn, doanh nghiệp càng nghĩ ra nhiều chiêu làm đẹp báo cáo tài chính, bằng cách các thủ thuật hợp lệ lẫn bất hợp lệ để phù phép doanh thu và bùa chi phí.

82_18_1331720929_22_14032012050823full_thumb_326x230

Doanh nghiệp còn có thể làm tăng lợi nhuận nhờ chuyển giá từ các công ty con hay công ty liên quan khác.

Cổ phiếu SSS của Công ty Cổ phần Sông Đà 6.06 bị đưa vào diện cảnh báo kể từ ngày 1.3.2012 do lợi nhuận sau thuế đã kiểm toán năm 2011 là -727 triệu đồng. Trước đó, theo báo cáo tài chính chưa kiểm toán, doanh nghiệp đạt lợi nhuận sau thuế 218 triệu đồng. Nguyên nhân của sự khác biệt trên là báo cáo kiểm toán đã điều chỉnh tăng chi phí quản lý doanh nghiệp và giá vốn. Trong điều kiện kinh doanh khó khăn như hiện nay, rủi ro doanh nghiệp sử dụng một số thủ thuật để làm đẹp báo cáo tài chính như SSS không phải là ít.

Phù phép doanh thu

Một thủ thuật các doanh nghiệp thường dùng vào cuối năm nhằm tăng con số doanh thu là cung cấp thêm tín dụng cho khách hàng. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể xuất trước hóa đơn để ghi nhận doanh thu hay thực hiện các hợp đồng “hàng bán có thể trả lại” (nghĩa là thỏa thuận với khách hàng lấy hàng vào cuối năm và đầu năm sau trả lại hàng với lý do nào đó). Nhà đầu tư hoàn toàn có thể phát hiện thủ thuật này thông qua việc so sánh nợ phải thu/doanh thu qua các kỳ của doanh nghiệp. Công ty Cổ phần Xây dựng Điện VNECO (VE1) vừa thoát hiểm ngoạn mục từ chỗ lỗ 2,9 tỉ đồng tính đến quý III trở thành đạt lợi nhuận 89 triệu trong cả năm 2011. Năm qua, VE1 đã cấp một khoản tín dụng khá lớn cho khách hàng, biểu hiện qua việc tỉ số nợ phải thu/doanh thu của tăng từ 76% năm lên 84%.

Doanh nghiệp còn có thể làm tăng lợi nhuận nhờ chuyển giá từ các công ty con hay công ty liên quan khác. Công ty X, có giám đốc là người nhà với giám đốc công ty Y, vào ngày 20.12 mua hàng của công ty Y. Doanh thu từ lô hàng này vừa đủ để Y không bị lỗ trong năm tài chính. Một pha cứu nguy rất đẹp vào phút chót. Thông thường, các công ty dùng thủ thuật này sẽ không thực hiện hợp nhất báo cáo tài chính với các công ty con hoặc không công bố giao dịch với các công ty liên quan.

Doanh nghiệp còn có thể làm tăng lợi nhuận từ chính tài sản cố định. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, doanh nghiệp không được đánh giá lại giá trị tài sản khi đang sử dụng. Tuy nhiên, nếu dùng tài sản này góp vốn kinh doanh thì sau quá trình định giá theo “giá thị trường” doanh nghiệp sẽ có nguồn lợi nhuận khác đáng kể. Hay đơn giản hơn là thanh lý một số tài sản cố định có giá trị lớn.

Một công ty bị nghi vấn có liên quan đến vấn đề này là Công ty Cổ phần Alphanam (ALP). Trong bối cảnh công ty mẹ lỗ hơn 133 tỉ đồng từ hoạt động kinh doanh, khoản lợi nhuận khác 259 tỉ đồng làm lợi nhuận trước thuế đảo chiều tăng lên gần 126 tỉ đồng. Thuyết minh báo cáo tài chính của Công ty chỉ ghi nhận: “Quý IV, Công ty có thu nhập từ hoạt động góp vốn bằng tài sản”, ngoài ra không giải thích gì thêm. Đáng lưu ý là nguyên giá tài sản cố định hữu hình của công ty mẹ đã giảm khá lớn, khoảng 51 tỉ đồng.

Hay Công ty Cổ phần Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam (VST) đã thanh lý tài sản với nguyên giá tổng cộng khoảng 231 tỉ đồng trong năm 2011.

Bùa chi phí

Đi đôi với doanh thu là chi phí. Với các thủ thuật hợp lệ lẫn bất hợp lệ, ban giám đốc có thể làm giảm đi chi phí thật sự của doanh nghiệp. Thủ thuật cắt giảm chi phí thường tập trung vào các ước tính kế toán, như thay đổi phương pháp tính khấu hao, chi phí phân bổ trong năm của doanh nghiệp, phương pháp xác định giá vốn. Doanh nghiệp cũng có thể không ghi nhận toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh vào chi phí hoặc giá vốn mà treo lại tại các tài khoản tạm như chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí chờ phân bổ, tạm ứng…; hay lập các khoản dự phòng nợ phải thu, giảm giá chứng khoán, hàng chậm luân chuyển, hàng hỏng… không chính xác.

Các nhà đầu tư có thể nhận ra hiện tượng bất thường này thông qua việc xem xét các tỉ lệ về giá vốn/doanh thu, chi phí/doanh thu khi các chỉ số này có biến động lớn so với cùng kỳ hoặc so với bình quân ngành khi doanh nghiệp không có biến động lớn về quản lý. Lại thêm một dấu hiệu nghi vấn từ VE1 khi tỉ lệ giá vốn/doanh thu của đơn vị thay đổi từ 88% vào cuối năm 2010 lên tới 91% vào quý III năm 2011 và giảm mạnh còn 81% vào cuối năm.

Việc cắt giảm chi phí thông qua các thủ thuật kế toán cũng thường đi kèm với hiện tượng gia tăng các tài khoản trên bảng tài sản như hàng tồn kho, sản phẩm dở dang, các chi phí phân bổ hoặc sự sụt giảm trong các tài khoản nợ như phải trả người lao động. Chi phí giá vốn sau kiểm toán của SSS tăng lên 780 triệu đồng là do đơn vị kiểm toán đã bổ sung chi phí cho nhân viên 100 triệu đồng, dự phòng mất việc khoảng 40 triệu đồng và ghi nhận thêm chi phí từ các chi phí trả trước.

Doanh nghiệp cũng có thể làm giảm chi phí thông qua việc vốn hóa các khoản chi phí không đủ điều kiện. Theo chuẩn mực kế toán, các chi phí lãi vay phát sinh trong thời gian xây dựng cơ bản được vốn hóa vào giá vốn. Như vậy, doanh nghiệp chỉ cần kéo dài thời gian xây dựng cơ bản qua niên độ tài chính là đã giảm được đáng kể chi phí lãi vay. Vốn hóa các khoản hoa hồng thông qua các hợp đồng tư vấn cũng là một cách giảm chi phí phổ biến. Ngoài hiện tượng phổ biến trên, việc nhà quản lý tăng chi phí vào các năm kinh doanh khó khăn nhằm làm giảm chi phí cho năm sắp tới cũng là rủi ro có thể xảy ra.

 

Nhãn: , ,

Chứng khoán hóa các khoản nợ còn nhiều thách thức

chung-khoan-hoa-cac-khoan-no-con-nhieu-thach-thuc

Chứng khoán hóa nửa vời sẽ khiến DN có thể sử dụng hình thức này để làm sạch sổ sách, giảm nợ vay bằng cách đẩy sang cho các công ty trong cùng một hệ thống.

Nếu chứng khoán hóa (CKH) trở nên phổ biến, thị trường chứng khoán (TTCK) sẽ đón nhận thêm một lượng không nhỏ cổ phiếu (CP) và có thể cả trái phiếu, khiến hàng hóa trên thị trường trở nên đa dạng, thu hút nhiều hơn nhà đầu tư (NĐT).

Chất lượng tài sản

Những doanh nghiệp (DN) nếu triển khai CKH sẽ có cơ may sống sót. Số CP được CKH từ nợ vay, cũng có thể xem như khoản đầu tư mạo hiểm, từ đó có thể thu hút được dòng tiền chấp nhận rủi ro lớn (để tìm kiếm lợi nhuận lớn). Tất nhiên, dòng tiền này chỉ tham gia đồng loạt, mạnh mẽ nếu có lượng cung CP đủ lớn. Read the rest of this entry »

 

Nhãn:

Case study: TripAdvisor và 2 lần chuyển hướng sau thất bại

TripAdvisor và 2 lần chuyển hướng sau thất bại

Một câu chuyện thành công đáng kinh ngạc. TripAdvisor với vốn đầu tư ban đầu chỉ vỏn vẹn 4 triệu USD nay có giá trị thị tường hơn 4 tỷ USD. 

Chỉ có một số ít công ty ngoài Google, Amazon, Facebook có thể phát triển lớn mạnh và duy trì lợi nhuận bền vững khi mở rộng hoạt động kinh doanh. TripAdvisor là một công ty như vậy – một câu chuyện thành công đáng kinh ngạc.

Đọc case study sau đây của Jeff Bussgang đăng tải trên Havard Business Review và Inc.com sẽ giúp chúng ta hiểu các bí quyết.

TripAdvisor: 2 lần chuyển hướng

TripAdvisor được Stephen Kaufer và Langley Steinert thành lập năm 2000, có trụ sở chính ở Boston (Hoa Kỳ). Đây là một website du lịch cung cấp các đánh giá và thông tin khác về các địa điểm du lịch, khách sạn,… Đến nay website TripAdvisor.com thu hút hơn 65 triệu lượt truy cập (unique visitor)/tháng để tìm thông tin đánh giá về khách sạn, nhà hàng, địa điểm du lịch trên khắp toàn cầu.

Thật ra, lúc đầu mô hình kinh doanh của TripAdvisor hoàn toàn khác so với hiện nay. Sáng lập viên Stephen Kaufer ban đầu muốn tận dụng kinh nghiệm về phần cứng của mình để sáng tạo ra một công cụ tìm kiếm thông tin du lịch cho các website chuyên về du lịch như Expedia và Travelocity.

Một năm sau đó, TripAdvisor không hề có một khách hàng nào, không kiếm được doanh thu và bắt đầu cạn tiền. Rồi sau đó, sự kiện 9/11 ở Mỹ đã tác động tiêu cực đến ngành du lịch. Điều may mắn là công ty đã xây dựng TripAdvisor.com như là một website thử nghiệm để giới thiệu với khách hàng về tiện ích của công cụ tìm kiếm đang phát triển. Và khi Stephen Kaufer nhận thấy website ngày càng thu hút người dùng, ông quyết định chuyển dịch mô hình sang hình thức thu tiền từ quảng cáo banner.

Sau một vài tuần không thấy có cú nhấp chuột nào vào banner cả, Kaufer quyết định chuyển hướng lần thứ hai: mô hình trả theo nhấp chuột (Cost per click, CPC). Cứ mỗi lần khách hàng click vào đường link khách sạn để đặt phòng, TripAdvisor sẽ tính phí cho khách sạn.

3 tháng sau khi TripAdvisor chuyển sang mô hình kinh doanh mới, công ty kiếm được 70 ngàn USD/tháng và đạt điểm hòa vốn. Ban đầu, Kaufer tuyển dụng các biên tập viên để tìm các bài viết chất lượng về du lịch trên internet để link tới, nhưng sau đó bắt đầu cho phép người dùng post các bình luận. Khi lượng người dùng bắt đầu tăng lên, TripAdvisor tập trung vào nội dung của người dùng vì nó mới, rất riêng biệt và đặc biệt là công ty không phải tốn chi phí.

TripAdvisor và Expedia

Với những thay đổi này, TripAdvisor bắt đầu phát triển thành công một cách nhanh chóng. Năm 2004, TripAdvisor đồng ý để Expedia/IAC mua lại với giá 210 triệu USD bằng tiền mặt. Đây là một thành công vượt bậc, khi mà số vốn đầu tư ban đầu chỉ là 4 triệu USD từ các quỹ đầu tư mạo hiểm.

Khi trở thành công ty của Expedia, TripAdvisor tiếp tục phát triển rực rỡ. TripAdvisor bắt đầu đặt banner các khách hàng của Expedia và kiếm doanh thu quảng cáo từ click chuột. Dần dần các quảng cáo của Expedia chiếm đến 1/3 doanh số; và vào tháng 12/2011, Expedia tách TripAdvisor ra thành một công ty độc lập và niêm yết trên sàn chứng khoán. TripAdvisor nay giao dịch với vốn hóa thị trường lên đến 4,8 tỷ USD.

Bài học 1: Tập trung vào việc tìm kiếm một mô hình kinh doanh hiệu quả

Sau một số tìm tòi, TripAdvisor đã tìm được mô hình kinh doanh cực kỳ hiệu quả, là mẫu hình của mạng xã hội và nội dung do người dùng tạo ra. Công ty hoàn toàn không phải trả chi phí cho nội dung vì người dùng hoàn toàn tự nguyện khi viết các bình luận. Đáng chú ý, người dùng hoàn toàn đến từ các công cụ tìm kiếm (trên thực tế, nghệ thuật SEO – Search Engine Optimization là do TripAdvisor phát minh ra).

Chính điều này đã giúp cho TripAdvisor có tỷ suất lợi nhuận gộp lên đến 98% và tỷ suất lợi nhuận EBITDA tới 47%! Thật khó để có thể tìm được một công ty có mức sinh lợi cao như vậy.

Bài học 2: Luôn duy trì tinh thần cấp bách (Sense of Urgency)

Theo Kaufer, sau nhiều năm thành lập và nay đã phát triển, TripAdvisor vẫn duy trì văn hóa và quy trình phát triển sản phẩm của một công ty mới khởi nghiệp.

“Khi tôi nghe nhóm lập trình nói rằng sẽ giới thiệu tính năng mới trong 2 tháng, thì lập tức tôi sẽ hỏi lại, liệu có lý do gì ngăn cản chúng ta làm điều này trong 2 tuần? Tôi rất vui vì được xem là CEO điên cuồng”.

Bài học 3: Nền văn hóa tập trung vào sản phẩm

Công ty luôn có nền văn hóa thử và học (test and learn culture) và hoàn toàn tập trung vào chất lượng sản phẩm.

Bài học 4: Tinh thần doanh thương

Kaufer mô tả kỹ thuật để xây dựng các trung tâm tạo lợi nhuận khi mở rộng quy mô: “Bất kỳ khi nào muốn mở rộng, bạn sẽ đối mặt với câu hỏi – sẽ xây dựng dưới hoạt động kinh doanh hiện tại, hay là sẽ mua doanh nghiệp và để chúng hoạt động riêng lẻ? Tôi thích để mọi thứ riêng lẻ (chúng tôi đã mua hàng chục công ty), nhân viên hoạt động riêng lẻ…”

“Chẳng hạn, bộ phận FlipKey của công ty, vẫn đang tự tuyển nhân viên như các bộ phận khác trong TripAdvisor. Tôi nói với họ rằng hay đi ra ngoài và tìm những ứng viên tốt nhất cho các bạn, thay vì phải đi qua quy trình tuyển dụng chung của công ty”.

Tương lai của TripAdvisor

TripAdvisor có thể có mô hình kinh doanh cực kỳ hiệu quả, nhưng thị trường thông tin du lịch đang bị cạnh tranh cực kỳ cao. Google đã mua lại công ty ITA ở Cambridge với giá 700 triệu USD và gần đây là trang web hàng đầu về thông tin du lịch Frommer là chỉ dấu cho thấy nhiều đối thủ đang theo đuổi mô hình của TripAdvisor.

Dù điều gì xảy ra trong tương lai đi nữa, nhưng bài học khi TripAdvisor mở rộng công ty thành công là rất đáng quan tâm và học hỏi.

(Source: http://www.bfinance.vn)

 

Nhãn: , ,