RSS

SPV: Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2)

13 Th2

SPV_Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2)

Phần 2 trình bày về cách tổ chức, quy trình hoạt động, mục đích sử dụng cũng như các rủi ro liên quan của cơ chế SPV.

SPV: Công cụ đặc biệt để ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 1)

Cách tổ chức một SPV

SPV (Special Purpose Vehicle/Special Purpose Entity, SPE) được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào mục đích của doanh nghiệp thành lập.

Ở Canada, các SPV thường được thành lập dưới dạng tổ chức từ thiện (charitable trust), trong khi đó ở Mỹ thường là công ty trách nhiệm hữu hạn. Ở châu Âu, mô hình tổ chức SPV điển hình nhất là một công ty trách nhiệm hữu hạn theo luật trong nước hoặc nước ngoài, có chủ là các tổ chức từ thiện.

Quy trình hoạt động của SPV

(1) Công ty thành lập SPV để bán tài sản trên bảng cân đối kế toán sang cho SPV và huy động vốn thông qua SPV.

(2) SPV huy động vốn bằng hình thức tài trợ nợ vay từ nhà đầu tư.

(3) SPV chuyền tiền về cho công ty thành lập và sau đó là ngân hàng đầu tư (investment bank). Tài sản thì được luân chuyển ngược lại, từ công ty thành lập SPV sang SPV, tiếp đến là ngân hàng đầu tư và sau cùng là công ty thành lập; và cuối cùng là cấn trừ lẫn nhau.

SPV_Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2) (1)

Mục đích sử dụng cơ chế SPV

(1) Chuyển nhượng tài sản: Có nhiều tài sản không thể hoặc rất khó chuyển nhượng được. Với cách tổ chức cho SPV sở hữu tài sản, doanh nghiệp có thể bán luôn cả SPV này thay vì từng tài sản riêng biệt.

(2) Chứng khoán hóa (Securitization): SPV là đặc thù quan trọng của quá trình chứng khoán hóa và được sử dụng để chứng khoán hóa các khoản cho vay hay các khoản phải thu khác.

Điển hình nhất là ở thị trường nhà đất Mỹ, các ngân hàng chuyển các khoản vay thế chấp dưới chuẩn thành các loại chứng khoán và bán cho nhà đầu tư với phương thức SPV. Các SPV mua tài sản bằng cách phát hành trái phiếu có đảm bảo là chính các tài sản thế chấp (nhà đất).

(3) Huy động vốn cho các dự án lớn: SPV có thể được sử dụng để huy động vốn cho một công ty mới mà không làm tăng gánh nặng nợ hay làm pha loãng cổ phần đối với công ty thành lập SPV.

Đối với các dự án lớn, công ty thành lập SPV có thể đầu tư một phần vốn và phần còn lại sẽ kêu gọi từ nhà đầu tư bên ngoài. Bằng cách này, nhà đầu tư vẫn có thể đầu tư vào dự án cụ thể nào đó mà không cần phải đầu tư vào cả công ty (thành lập SPV).

(4) Chia sẻ rủi ro: SPV có thể được sử dụng để nhận các rủi ro từ công ty thành lập, đặc biệt trong trường hợp cần phân tán rủi ro phá sản hay vỡ nợ. SPV được thành lập ở một môi trường pháp lý khác biệt và hoàn toàn không có liên hệ gì với công ty chính (nguyên tắc phá sản từ xa – bankruptcy remoteness).

Gần đây, sau khủng hoảng tài chính năm 2007-2008, cơ quan quản lý nhiều nước đang tranh luận việc cần phải hợp nhất các SPV này vào công ty chính.

(5) Gian lận tài chính: Cơ chế SPV cũng có thể bị lạm dụng nhờ cách hạch toán ngoại bảng (off-balance sheet), để làm đẹp báo tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn vốn hay là giấu nợ, khuyếch đại lợi nhuận như trường hợp của Enron hay thậm chí là trốn thuế.

(6) Huy động vốn với chi phí tốt hơn: Vì SPV sở hữu tài sản, vốn sau đó trở thành tài sản thế chấp của chứng khoán phát hành (securitization), người cho vay sẽ đánh giá chất lượng tín dụng dựa trên chất lượng của tài sản thế chấp chứ không phải chất lượng của doanh nghiệp. Điều này có thể giúp cho doanh nghiệp huy động được vốn với chi phí thấp hơn.

Ví dụ, một doanh nghiệp có độ rủi ro cao (xếp hạng không đầu tư, non-investment grade) có thể huy động vốn với chi phí đối với investment grade bằng cách tách tài sản vào một SPV.

Rủi ro của cơ chế SPV đối với doanh nghiệp thành lập

(1) Cấu trúc phức tạp: Sự phức tạp của vấn đề chứng khoán hóa có thể khiến doanh nghiệp không thể theo dõi và kiểm soát rủi ro liên quan.

(2) Rủi ro uy tín: Uy tín của doanh nghiệp thành lập có thể bị ảnh hưởng nếu SPV hoạt động tồi, chẳng hạn như nhà đầu tư vào doanh nghiệp hay bên cung cấp tín dụng quay lưng. Vì vậy, thông thường doanh nghiệp sẽ khó mà bỏ rơi SPV trong trường hợp gặp khó khăn.

(3) Rủi ro bị suy diễn: SPV hoạt động kém có thể thu hút sự chú ý của giới đầu tư và họ có thể cho rằng chất lượng bảng cân đối của doanh nghiệp cũng không sáng sủa.

(4) Rủi ro từ định giá theo thị trường (mark to market): Doanh nghiệp có thể nắm cổ phần trong SPV, và trong các giai đoạn khó khăn, việc bán các tài sản với định giá thấp có thể ảnh hưởng đến các tài sản liên quan đến bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.

(5) Rủi ro pháp lý: Các quy định pháp lý đối với SPV tỏ ra dễ thở và đây cũng là một trong những động lực để doanh nghiệp thành lập SPV. Tuy nhiên, chính điều này lại tạo ra rủi ro gián tiếp lên doanh nghiệp.

Bài viết có tham khảo tài liệu về SPV của PricewaterhouseCoopers.

(Source: http://www.bfinance.vn/)

Advertisements
 

Nhãn: , , , , , , , ,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: