RSS

Monthly Archives: Tháng Hai 2014

JPMorgan đã giúp Enron giấu nợ như thế nào?

20(13)

Công ty Enron được thành lập vào năm 1985, với doanh thu đến 101 tỷ USD trong năm 2000. Họ từng là tập đoànnăng lượng hùng mạnh nhất Hoa Kỳ, hoạt động ở trên 40 nước.

          Tuy nhiên, sau khi bị phát hiện che dấu thua lỗ nợ nần, Cổ phiếu Enron từ đỉnh cao 90USD vào giữa năm 2000 đã tuột dốc không phanh xuống chỉ còn chưa tới 1USD vào cuối tháng 11-2001. Với tài sản lên tới 63,4 tỷ USD, Enron là vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ tính đến thời điểm đó. Mọi người đều biết công ty kiểm toán thuộc hạng big5 lúc bấy giờ là Arthur Andersen(AA) đã ăn tiền để giúp Enron đánh bóng BCTC của mình, khiến cho nhà đầu tư mất hàng tỷ USD và khoảng 20.000 nhân viên Enron bị mất việc làm. Nhưng có lẽ ít ai biết Enron đã giấu nợ như thế nào và các ngân hàng lớn như JPMorrgan & Citi bank đóng vai trò gì trong vụ gian lận kinh điển này? Read the rest of this entry »

Advertisements
 

Nhãn: , ,

Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số (Phần 2)

 phong_chong_gian_lan_cho_doanh_nghiep_3Ví dụ về gian lận

Từ lý thuyết đến thực tiễn, dưới đây là hai ví dụ điển hình về gian lận

Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số (Phần 1)

Báo cáo tài chính: Khi đang kiểm tra việc cắt giảm doanh số bán hàng ở một khách hàng, trong số các nghiệp vụ đã được chọn lựa, kiểm toán viên đã bắt gặp một nghiệp vụ liên quan đến doanh số từ một khách hàng mà dựa vào việc đánh giá tình hình kinh doanh ở các phần hành kiểm toán khác, kiểm toán viên nhận ra khách hàng này là một người mua chính. Nghiệp vụ này xảy ra không thường xuyên, và được đánh giá là trọng yếu.

Những tài liệu có liên quan đến nghiệp vụ này được thu thập. Những tài liệu này bao gồm những bằng chứng liên quan đến việc chi trả của các khoản phải thu sau ngày kết thúc Báo cáo tài chính năm. Tuy nhiên tài liệu liên quan đến việc giao hàng bẳng đường thuỷ đã không được cung cấp. Quá trình phân tích đã chỉ ra rằng không hề có việc ghi chép quá trình vận chuyển. Mặc dù có bằng chứng của việc chi trả, nhưng không hề có bằng chứng chứng minh rằng hàng hóa đã được giao. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , , ,

Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số! (Phần 1)

Untitled(3)(1)

Kiểm toán viên cần phải hiểu và tuân thủ Chuẩn mực Kiểm toán số 99 (SAS99 – Chuẩn mực kiểm toán Mỹ) – Xem xét gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chuẩn mực này chủ yếu tập trung vào các thủ tục phát hiện gian lận. Nhưng trong quá trình phát hiện gian lận, Chuẩn mực này cũng quy định việc phát hiện gian lận của kiểm toán viên luôn tồn tại những hạn chế. Bài viết này tập trung vào một số vấn đề chuyên môn có tính thông lệ khi kiểm toán viên phát hiện các sai sót trọng yếu liên quan đến gian lận. 

Phát hiện gian lận không chỉ qua những con số! (Phần 2)

Bài dịch:

CHUẨN MỰC NGHỀ NGHIỆP

SAS 99 phân loại các sai sót liên quan đến gian lận thành hai loại: một là các gian lận liên quan đến báo cáo tài chính, hai là các gian lận liên quan đến việc biển thủ tài sản. Nhân tố chính để phân biệt giữa gian lận và sai sót là sự cố tình hay vô ý. SAS 99 chỉ ra rằng “rất khó khăn để xác định những hành động cố ý” và “một cuộc kiểm toán được thiết lập không phải để phát hiện những hành động cố ý” và “gian lận một phạm trù rộng lớn, kiểm toán viên không thể quyết định chính xác khi nào gian lận xảy ra”. Vì vậy khả năng xét đoán là yếu tố then chốt trong việc phát hiện các gian lận tiềm ẩn và các Chuẩn Mực Kiểm toán chung được thừa nhận GAAS (Generally Accepted Auditing Standards) đưa ra những hướng dẫn cụ thể trong việc phát hiện gian lận. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , ,

SPV: Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2)

SPV_Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 2)

Phần 2 trình bày về cách tổ chức, quy trình hoạt động, mục đích sử dụng cũng như các rủi ro liên quan của cơ chế SPV.

SPV: Công cụ đặc biệt để ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC (Phần 1)

Cách tổ chức một SPV

SPV (Special Purpose Vehicle/Special Purpose Entity, SPE) được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào mục đích của doanh nghiệp thành lập.

Ở Canada, các SPV thường được thành lập dưới dạng tổ chức từ thiện (charitable trust), trong khi đó ở Mỹ thường là công ty trách nhiệm hữu hạn. Ở châu Âu, mô hình tổ chức SPV điển hình nhất là một công ty trách nhiệm hữu hạn theo luật trong nước hoặc nước ngoài, có chủ là các tổ chức từ thiện. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , , , , , , , ,

SPV: Công cụ đặc biệt để ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC

SPV Công cụ đặc biệt ‘tái cấu trúc’ và làm đẹp BCTC 1

Công ty phục vụ mục đích đặc biệt – Special Purpose Vehicle (SPV) hay Special Purpose Entity (SPE) – là một pháp nhân ngoài bảng cân đối kế toán (off-balance sheet vehicle, OBSV). 

Làm đẹp” báo cáo tài chính (Phần 2): Mánh khóe SPV, Mark to Market, Repo 105… 

SPV ra đời để phục vụ mục đích tạm thời nào đó của doanh nghiệp/cá nhân đi thành lập. Đối tượng thành lập SPV (Orginator/Sponsoring firm) điển hình nhất là các ngân hàng đầu tư (investment bank), công ty bảo hiểm hay tập đoàn tài chính.

Cơ chế SPV được hình thành và sử dụng cách đây khoảng 30 năm; nhưng thuật ngữ SPV chỉ trở nên phổ biến sau những bê bối tại Enron năm 2001, và đặc biệt là sự sụp đổ của Lehman Brothers cũng như cuộc khủng khoảng tài chính năm 2007-2008. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: , , , , , , , , , ,

Thế nào là phù hợp?

write-list-1Rất ít chủ DN biết và tôn trọng nguyên tắc phù hợp nêu trên trong việc thực hiện Luật thuế TNDN. Nhiều chủ DN do không biết nguyên tắc phù hợp nên đã đưa vào chi phí sản xuất kinh doanh những khoản chi hoàn toàn không liên quan đến doanh thu trong kỳ và đương nhiên bị loại ra khỏi chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế hay còn gọi là bị “xuất toán”.

Trong việc xác định và quyết toán thuế thu nhập DN, chỉ khi có một khoản doanh thu được ghi nhận mới được ghi nhận một khoản chi phí tương ứng là nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất. Được ghi nhận tức là đã được phản ánh vào các tài khoản. Được thừa nhận tức là, những chi phí đó phải có chứng từ hợp pháp theo quy định của luật thuế. Read the rest of this entry »

 
 

Nhãn: , ,

Case study: ‘Đỉnh cao’ xe mô tô Ducati sống lại từ bờ vực phá sản

Đỉnh cao xe mô tô Ducati sống lại từ bờ vực phá sản 1

Cuối thập niên 1990, hàng năm Ducati sản xuất khoảng 20.000 chiếc so với 5,4 triệu chiếc của Honda, và đứng trên bờ vực phá sản. Tình thế xoay chuyển hoàn toàn sau 5 năm.

Câu chuyện:

Được Antonio Cavalieri Ducati và 3 người con trai Adriano, Marcello và Bruno Cavalieri Ducati thành lập năm 1926 tại Bologna (Italy), hãng sản xuất xe mô tô Ducati hiện thuộc sở hữu của Audi (một nhánh của Volkswagen Group) thông qua công ty sản xuất xe hơi thể thao siêu sang Lamborghini.

Ducati được xem là đỉnh cao trong lĩnh vực xe mô tô của Italy cả về phương diện thiết kế mẫu mã, chất lượng xe cũng như truyền thống lâu đời. Read the rest of this entry »

 

Nhãn: